TOÀN ĐẢNG, TOÀN QUÂN, TOÀN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2019   -  TẤT CẢ VÌ MỤC TIÊU DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, DÂN CHỦ, CÔNG BẰNG, VĂN MINH   -  THƯỜNG XUYÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH   -  MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH
  10/06/2019 10:38     |  Lượt xem 156   

Xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở vững mạnh - khâu đột phá thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XII của Công đoàn Việt Nam

Xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu là nhiệm vụ quan trọng, vừa khẳng định vị thế, vai trò, tiếng nói của công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, vừa thúc đẩy doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia phát triển. Đây cũng được xem là khâu đột phá nhằm thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XII của Công đoàn Việt Nam, là giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Hội nghị trực tuyến học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XII, tại điểm cầu thành phố Đà Nẵng - Nguồn: congdoandanang.org.vn

1- Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn (sau đây gọi chung là CĐCS) là nền tảng của tổ chức công đoàn, nơi trực tiếp tập hợp đoàn viên, người lao động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn. Cán bộ CĐCS do đoàn viên tín nhiệm bầu ra, là những người trực tiếp đại diện cho đoàn viên và người lao động trong quan hệ lao động ở cơ quan, đơn vị. Cán bộ CĐCS có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, tổ chức cho đoàn viên, người lao động hoạt động; thường xuyên sâu sát, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng lao động và đoàn viên công đoàn để kịp thời phản ánh với tổ chức công đoàn, với Đảng, Nhà nước. 

Cán bộ CĐCS vừa thực hiện chức năng, nhiệm vụ là người đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động; vừa vận động đoàn viên và người lao động hăng hái thi đua lao động sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của cơ quan, đơn vị. Có thể nói, cán bộ CĐCS có vai trò quan trọng trong xây dựng quan hệ lao động và sự ổn định, phát triển bền vững của cơ quan, đơn vị; kết quả phong trào công nhân và hoạt động công đoàn luôn gắn liền với năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ công đoàn ở cơ sở.

Trong những năm qua, tổ chức công đoàn Việt Nam không ngừng lớn mạnh. Hiện nay, cả nước đã có trên 126 nghìn CĐCS với trên 10,5 triệu đoàn viên công đoàn. Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, đặc biệt là đội ngũ cán bộ CĐCS luôn được quan tâm, chú trọng. Đội ngũ cán bộ CĐCS đã có bước trưởng thành, phát triển về số lượng, từng bước nâng cao về chất lượng. Tính đến ngày 30-6-2017, cả nước có khoảng 800.000 cán bộ công đoàn ở cơ sở, trong đó có 475.478 ủy viên ban chấp hành công đoàn cấp cơ sở, 104.206 ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn cấp cơ sở và khoảng trên 200.000 tổ trưởng, tổ phó tổ công đoàn, công đoàn bộ phận, ủy viên ban chấp hành công đoàn thành viên.

Nhìn chung, hầu hết cán bộ CĐCS có phẩm chất đạo đức tốt, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ sự quản lý của Nhà nước, tích cực triển khai các chỉ thị, nghị quyết, chương trình hoạt động của công đoàn cấp trên, luôn gắn bó, quan tâm đến lợi ích của công nhân, có nhiều nỗ lực khắc phục khó khăn, phấn đấu trong học tập, công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh những ưu điểm, cán bộ công đoàn ở cơ sở còn một số điểm hạn chế, như nhận thức của đa số cán bộ về kinh tế thị trường, quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường còn chưa bắt kịp xu hướng phát triển thực tế của phong trào công nhân và hoạt động công đoàn; một số cán bộ chậm đổi mới về tư duy để thích ứng với điều kiện hoạt động công đoàn trong tình hình mới; một số cán bộ còn hạn chế về năng lực, chưa nắm vững những vấn đề lý luận và nghiệp vụ công đoàn, chưa am hiểu sâu về luật pháp, chế độ, chính sách có liên quan đến người lao động, thiếu kỹ năng cần thiết nên còn lúng túng trong xử lý các mối quan hệ và tổ chức các hoạt động công đoàn; một số chưa nhiệt tình, kém tâm huyết, thiếu trách nhiệm, dành ít thời gian cho hoạt động công đoàn...

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên của cán bộ CĐCS, về khách quan, là do hầu hết đều làm việc kiêm nhiệm, công việc thường xuyên biến động, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn là chủ yếu, ít có thời gian dành cho hoạt động công đoàn. Cán bộ CĐCS là người đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động nhưng lại chịu sự quản lý và hưởng lương từ người sử dụng lao động nên phải chịu áp lực rất lớn, thậm chí phải đối mặt với nhiều rủi ro do sự phân biệt đối xử vì lý do hoạt động công đoàn từ người sử dụng lao động... Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, trong đó ngay từ khâu ban đầu là việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự làm cán bộ CĐCS; công tác tuyên truyền giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này; sự hỗ trợ của công đoàn cấp trên đối với CĐCS; chính sách, cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn chưa hiệu quả... đang là những điểm yếu, tác động tiêu cực đến năng lực của đội ngũ cán bộ CĐCS.

2- Trong thời gian tới, nước ta tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng. Những chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế, nhất là các nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, sẽ tạo đà cho sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, kéo theo sự gia tăng về lực lượng và thay đổi cơ cấu lao động. Người lao động tại khu vực nhà nước sẽ ngày càng giảm; người lao động khu vực ngoài nhà nước sẽ tăng nhanh. Hoạt động công đoàn khu vực ngoài nhà nước sẽ trở thành chủ yếu. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà Việt Nam đã ký kết, sẽ từng bước được hiện thực hóa. Theo đó, trong thời gian tới, pháp luật sẽ cho phép người lao động có quyền tự do thành lập tổ chức đại diện ở cơ sở. Đây là vấn đề mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử phát triển tổ chức công đoàn Việt Nam. Bên cạnh đó, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động đến mọi mặt đời sống và sản xuất, trong đó có việc làm của người lao động, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức công đoàn. Tất cả những biến động trên đặt ra những thách thức mới với hoạt động của tổ chức công đoàn Việt Nam, đòi hỏi sự chung tay tập trung giải quyết của các cấp, các ngành bên cạnh sự nỗ lực của tổ chức công đoàn Việt Nam.

Đại hội XII Công đoàn Việt Nam xác định mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2018 - 2023 là: “Nâng cao hiệu quả đại diện, chăm lo lợi ích đoàn viên, bảo vệ người lao động, vì việc làm bền vững, đời sống ngày càng cao. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, tinh thần yêu nước, hiểu biết pháp luật, trách nhiệm cao, tay nghề giỏi, góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh. Hoàn thiện mô hình tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn bản lĩnh, trí tuệ, chuyên nghiệp; tập hợp, thu hút đông đảo người lao động vào tổ chức công đoàn Việt Nam; xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh. Tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội xác định 9 nhiệm vụ và 9 nhóm chỉ tiêu cụ thể, trong đó có 7 chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến công đoàn cơ sở gồm: 1- Đến năm 2023 kết nạp 2 triệu đoàn viên; thành lập tổ chức cơ sở của công đoàn ở 100% số doanh nghiệp có 25 công nhân lao động trở lên, phấn đấu các doanh nghiệp có trên 10 lao động có tổ chức công đoàn. 2- Hằng năm bình quân mỗi công đoàn cơ sở giới thiệu được ít nhất 01 đoàn viên công đoàn ưu tú cho Đảng xem xét, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. 3- Hằng năm có 80% trở lên công đoàn cơ sở khu vực nhà nước, 55% trở lên công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước đạt vững mạnh. 4- 100% số công đoàn cơ sở khu vực hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước, 70% trở lên công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước thành lập được ban nữ công quần chúng theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam. 5- Thu tài chính công đoàn đạt 90% trở lên so với số phải thu kinh phí và đoàn phí công đoàn theo quy định của pháp luật. 6- Hằng năm có từ 98% trở lên cơ quan, đơn vị tổ chức hội nghị cán bộ, công chức; từ 95% trở lên doanh nghiệp nhà nước và 60% trở lên doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước tổ chức hội nghị người lao động; từ 90% trở lên doanh nghiệp nhà nước và 70% trở lên doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước tổ chức đối thoại tại nơi làm việc. 7- Từ 70% trở lên doanh nghiệp có tổ chức công đoàn ký kết thỏa ước lao động tập thể, trong đó ít nhất 45% đạt loại B trở lên. 

Để hiện thực hóa các mục tiêu, chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội đề ra, từ thực trạng về đội ngũ cán bộ CĐCS, đặc biệt, để việc “Xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ”, thực sự trở thành một trong trong ba khâu đột phá mà Đại hội XII Công đoàn Việt Nam đề ra, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần thứ 2 thảo luận, thống nhất ban hành Nghị quyết về công tác cán bộ công đoàn trong tình hình mới. Theo đó, trong thời gian tới tập trung triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, các cấp công đoàn cần bám sát những nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Việt Nam đề ra; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể của từng cấp, từng địa phương, đơn vị thực hiện Nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Việt Nam. Riêng đối với việc “Xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ”, cần tiến hành rà soát, đánh giá một cách kỹ lưỡng thực trạng đội ngũ cán bộ CĐCS hiện nay; chỉ rõ những ưu điểm, khuyết điểm, phân tích rõ nguyên nhân, từ đó có kế hoạch, giải pháp triển khai thực hiện. 

Thứ hai, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền, công đoàn các cấp về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ công đoàn, nhất là đội ngũ cán bộ CĐCS. Cần nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của cán bộ CĐCS với phong trào công nhân, lao động và hoạt động công đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc’’, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; ở nơi nào có cán bộ CĐCS vừa có tâm, vừa đủ tầm, tràn đầy nhiệt huyết với công việc thì hoạt động công đoàn ở đó sẽ hiệu quả, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động sẽ được bảo vệ tích cực. Qua đó, góp phần tích cực xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Thứ ba, lựa chọn đội ngũ cán bộ CĐCS, nhất là chủ tịch CĐCS thực sự là thủ lĩnh của tập thể lao động. Có thể nói cán bộ CĐCS là những người trực tiếp xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động của CĐCS; tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của công đoàn cấp trên và nghị quyết đại hội CĐCS; trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động, đại diện cho tập thể người lao động trong xây dựng, giải quyết các mối quan hệ giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động. Để làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đòi hỏi cán bộ CĐCS phải có năng lực tập hợp quần chúng; có tác phong liên hệ mật thiết với đoàn viên, người lao động; có kỹ năng tổ chức đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động, để giải quyết thấu đáo những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động; có bản lĩnh dám đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, người lao động. Vì vậy, việc lựa chọn đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là chủ tịch CĐCS thực sự là thủ lĩnh của tập thể lao động đặc biệt quan trọng. Muốn vậy, công đoàn cấp trên cơ sở phải thường xuyên theo dõi nắm chắc về đội ngũ cán bộ CĐCS; mỗi kỳ đại hội hoặc khi có thay đổi về nhân sự của CĐCS cần chuẩn bị tốt công tác nhân sự; việc bầu cử ở cấp cơ sở cần được đổi mới theo hướng phát huy dân chủ, đặc biệt cần đổi mới, nhân rộng hình thức bầu cử trực tiếp đối với chủ tịch CĐCS, tạo điều kiện để đoàn viên, người lao động thực sự có cơ hội lựa chọn ra người thủ lĩnh của mình. 

Thứ tư, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ CĐCS trong doanh nghiệp. Cần chú trọng bổ sung các kỹ năng xử lý tình huống nảy sinh trong thực tiễn. Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phải phù hợp với từng loại hình CĐCS, do vậy cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo, đặc biệt là hình thức tự đào tạo và đào tạo trực tuyến để tạo điều kiện cho cán bộ CĐCS có thể tiếp cận các chương trình đào tạo một cách thuận lợi, dễ dàng. Các cấp công đoàn, đặc biệt là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương cần tiếp tục củng cố, phát triển đội ngũ chuyên gia, giảng viên kiêm chức, đặc biệt là chuyên gia, giảng viên trong các lĩnh vực về phát triển xây dựng tổ chức, đối thoại, thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể, an toàn vệ sinh lao động; đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ công đoàn, đào tạo cán bộ CĐCS...

Thứ năm, tăng cường hỗ trợ để có cơ chế bảo vệ hữu hiệu và quan tâm chăm lo thực hiện chính sách đối với cán bộ CĐCS. Cán bộ công đoàn ở cơ sở chủ yếu là kiêm nhiệm, có rất ít thời gian cho hoạt động công đoàn, mặt khác họ hưởng lương và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động nên chịu áp lực và rất dễ bị chi phối, vì vậy công đoàn cấp trên cần quan tâm hỗ trợ cho cán bộ CĐCS trong quá trình triển khai các hoạt động công đoàn, nhất là trong thương lượng, đối thoại, giải quyết tranh chấp lao động... Cán bộ CĐCS cũng thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị phân biệt đối xử, vì vậy để họ có tâm huyết, trách nhiệm với chức trách, nhiệm vụ thì tổ chức công đoàn phải có trách nhiệm bảo vệ họ. Cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn theo hướng dựa vào tập thể, có chính sách hợp lý để hỗ trợ cán bộ công đoàn khi bị người sử dụng lao động sa thải do đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Bên cạnh đó, tổ chức công đoàn cần tiếp tục quan tâm hơn nữa việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ công đoàn ở cơ sở. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách đối với cán bộ công đoàn, tập trung vào việc xây dựng chế độ, chính sách tiền lương, phụ cấp. Có các hình thức ghi nhận những cống hiến của họ; các chính sách ưu đãi trong đào tạo, bồi dưỡng; các hình thức động viên khen thưởng nhằm tạo động lực để cán bộ công đoàn phấn đấu, làm việc./.

Theo Tapchicongsan.org.vn

 

Liên kết banner
 
 
 
 
 
 
Liên kết web
Video Clip
Thăm dò ý kiến
Bạn đánh giá như thế nào về cổng thông tin này?


Gửi bình chọn  Xem kết quả

Lượt Truy Cập
Số lượt truy cập : 2124062