Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, là đường lốì chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh. Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhân dân luôn là lực lượng che chở cho Đảng, cán bộ của Đảng. Chính vì thế, Đảng muốn tồn tại thì phải ở trong lòng dân, dựa vào nhân dân để đánh đổ ách ngoại xâm. Trong lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định : "Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Để công cuộc đổi mới thành công phải động viên được mọi tầng lớp nhân dân và các thành phần kinh tế tham gia".
Trong kết cấu quyền lực của xã hội Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thì tất cả mọi quyền lực đều thuộc vê nhân dân. Nhân dân nắm mọi quyền lực thông qua Nhà nước do dân lập nên. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá đường lối, quan điểm, các nghị quyết của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; bố trí cán bộ cho hệ thông bộ máy nhà nước và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước, mà lãnh đạo để Nhà nước phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo trong quản lý đất nước và xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc, nhưng cũng chỉ là một bộ phận nhỏ trong quần chúng nhân dân. Cho nên, Đảng chỉ có thể làm tròn sứ mệnh lịch sử “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành” của mình khi kiên trì nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân, tổ chức và lãnh đạo nhân dân. Sẽ là xa nhân dân, thậm chí mất nhân dân nếu mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng không nhận thức một cách sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của mối quan hệ này.
Nhận thức sâu sắc ý nghĩa quan trọng của vấn đề đó, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định: “Thật sự phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật, kỷ cương; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”[2]. Theo đó, một mặt, Đảng phải thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đây là một chủ trương mang tầm chiến lược của Đảng, ở mọi nơi, mọi lúc, Đảng không để quyền làm chủ của nhân dân trở thành khẩu hiệu suông, mà phải tạo điều kiện thực tế và có cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể và góp ý cho cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cần thực hiện đều đặn việc đối thoại trực tiếp, tự kiểm điểm trước dân và lắng nghe ý kiến đóng góp phê bình của nhân dân. Mặt khác, Đảng phải luôn chăm lo đầy đủ đến lợi ích, đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân; thực hiện an sinh xã hội, công bằng xã hội và đi liền cùng đó phải kịp thời trừng trị nghiêm khắc những kẻ tham nhũng, làm giàu bất chính, xâm phạm lợi ích của nhân dân. Đồng thời, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện và “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, học tập và làm theo tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chỉ có học và làm theo lời Bác về “gắn bó mật thiết vối nhân dân” một cách sâu sắc mới có thể thiết thực “đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốỉ sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối vối Đảng” theo tinh thần Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được thông qua ở Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương; người đứng đầu của cấp ủy, chính quyền các cấp càng phải thấm nhuần nguyên tắc này để tạo được chuyển biến thực sự, không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, mà còn củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chủ trương, chính sách nhằm chăm lo và phát huy các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng trong xã hội, nhất là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, lực lượng thanh niên, lực lượng doanh nhân... trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những nghị quyết, chủ trương, chính sách trên cùng với Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, về công tác dân tộc, về công tác tôn giáo, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị (khoá IX) về công tác đổi với người Việt Nam ở nước ngoài và nhiều nghị quyết, chỉ thị có liên quan của Bộ Chính trị, Ban Bí thư là cơ sở hết sức quan trọng để chăm lo các giai tầng trong xã hội, tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tại Đại hội XII, tư duy mới của Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc là phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới; bởi vậy, nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân mà chúng ta đang tập trung xây dựng hiện nay là nền quốc phòng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mang tính toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng vững chắc. Tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết phải chú ý tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần; tiềm lực quân sự, tiềm lực kinh tế, khoa học - công nghệ, tiềm lực quốc phòng, an ninh; gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân..., đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới”.
Tại Đại hội XIII, trước tình hình mới, Đảng ta khẳng định, việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc không chỉ gắn với thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà còn phải kết hợp với sức mạnh của thời đại, của hòa bình, hợp tác và phát triển, của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế với xu thế của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Bên cạnh đó, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với phát huy ý chí toàn dân tộc cũng nằm trong mục tiêu, định hướng khát vọng phát triển đất nước, với mục tiêu cụ thể là đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã cụ thể hóa hơn nữa chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc của Đại hội XIII và tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, từ đó ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, về “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Nghị quyết số 43-NQ/TW xác định, nền tảng vững chắc của đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ bền chặt giữa Đảng và nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau, giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình, tiến bộ trên thế giới. Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 làm điểm tương đồng để động viên, cổ vũ nhân dân đồng lòng, chung sức thực hiện vì tương lai của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.
Nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách, pháp luật nhằm khơi dậy và phát huy sức sáng tạo của các tầng lóp nhân dân, chăm lo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt là các chính sách, các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, thiết thực chăm lo an sinh xã hội, nhất là đối với đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số...
Chiến tranh đã lùi xa gần 50 năm, những thành tựu đáng tự hào nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng tiếp tục được củng cố và phát huy trên hành trình hướng tới tương lai. Kiên định con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, trong gần 40 năm đổi mới, tận dụng những vận hội lớn và vượt qua những thách thức, nhân dân ta đã làm nên một đất nước Việt Nam ngày càng có vị thế trên trường quốc tế. Trong mỗi thắng lợi đó, đều có sự chung tay, góp sức của nhân dân. Tuy nhiên, tác động của nền kinh tế thị trường và tình trạng suy thoái đạo đức, quan liêu, mệnh lệnh, chuyên quyền, tham nhũng, cá nhân, vô kỷ luật, coi thường phép nước của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã khiến họ trở nên xa dân, làm mất uy tín, làm tổn hại danh dự của Đảng, đe dọa đến sự sinh tồn của Đảng.
Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân, toàn quân ta đã tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, kiên trì phấn đấu, bằng trí tuệ, tài năng và nghị lực phi thường của mình, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nên thế mối và lực mới cho đất nước. Tuy nhiên, đất nước ta vẫn còn phải đương đầu với không ít khó khăn thách thức, vẫn còn những hạn chế, yếu kém: kinh tế phát triển chưa bền vững; các lĩnh vực văn hoá, xã hôi còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc; phân hoá giàu nghèo ngày một tăng; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch vẫn tăng cường âm mưu, thủ đoạn phá hoại chế độ, phá hoại thành quả cách mạng và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị phải bảo đảm nguyên tắc: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu của tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Liệu điều này có mâu thuẫn với việc bảo đảm và phát huy dân chủ cho xã hội không? Về nguyên tắc, điều này không có gì mâu thuẫn vối vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Với vai trò như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam là người chịu trách nhiệm cuối cùng, là người chịu trách nhiệm lớn nhất đối với chất lượng của đội ngũ cán bộ và của hệ thông chính trị. Vấn đề là ở chỗ, trong thực tế hoạt động lãnh đạo công tác cán bộ, Đảng thể hiện cụ thể bằng những cách thức như thế nào cho phù hợp với từng thời kỳ. Phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Lãnh đạo của Đảng chú trọng vào việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho các tổ chức, đoàn thể này hoạt động theo đúng định hướng chính trị, đúng pháp luật. Trong điều kiện hiện nay, tính hiệu quả, thiết thực càng cần được chú ý để thực sự phát huy vai trò làm chủ của nhân dân; làm cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo trong hoạt động, tránh căn bệnh hành chính hoá. Một đảng duy nhất, đóng vai trò cầm quyền, nhưng cũng phải tôn trọng tính chất hiệp thương chính trị của Mặt trận.
Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tô quốc có những thuận lợi mới, thời cơ mới, thực lực và sức mạnh mới nhưng cũng không thiếu nhiều thách thức mới. Nhận thức được vấn đề này, Đảng ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa, đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nhân dân ta đã được Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để đóng góp ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối phát triển đất nước. Trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ ở trong bản thân Đảng mà còn là sự tổng hợp, kết tinh từ xã hội. Là chính đảng duy nhất cầm quyền, cho nên Đảng ta rất cần sự đóng góp trí tuệ của nhân dân, để Đảng luôn thực sự “là đạo đức, là văn minh”, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ mà lịch sử và nhân dân đã giao phó. Tuy nhiên, đó phải là những ý kiến góp ý bằng cái tâm trong sáng, với ý thức xây dựng, vì sự phát triển của đất nước, chứ không phải là những “ý kiến” của những kẻ giả danh dân chủ, giả danh nhân dân để phá hoại mối đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam được kết tinh từ trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, lại được thực tế phong trào cách mạng của nhân dân kiểm chứng, phản ánh lại cho Đảng để Đảng biết phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế, sai lầm. Có như vậy, sự cầm quyền của Đảng mới được bền vững. Ở đây, vai trò của Mặt trận Tố quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân được thể hiện rõ: vừa luôn có những ý kiến tâm huyết đóng góp, vừa thay mặt các tầng lớp nhân dân kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động của Đảng. Chính vì vậy, là Đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng ta không sa vào ‘‘đảng trị”, không chuyên quyền, độc đoán..., luôn được nhân dân kiểm tra, giám sát và chung ý, chung lòng, vì mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Nguyễn Văn Minh - Trường Chính trị tỉnh
Giảng viên Khoa Nhà nước Pháp Luật